LỊCH SỬ PHẬT GIÁO HÀN QUỐC

Bán đảo Hàn quốc (221.082 km2) với lịch sử 4.300 năm là một trong vài nước cổ nhất của thế giới. Phía bắc Hàn quốc giáp ranh với Trung quốc và tỉnh Maritime của Liên Bang Nga; ba mặt đông, tây và nam là biển cả. Phía tây Hàn quốc ngang qua Biển Vàng (mà Hàn quốc gọi là Biển phía Tây) là giáp Trung quốc, phía nam là gần quần đảo Nhật bản. V́ thế địa dư Hàn quốc xem như nằm ở trung tâm của Đông Á. Theo thống kê của Tổ chức Liên hiệp quốc 2003, dân số Nam hàn khoảng 47,7 triệu và Bắc hàn là 22,6 triệu. Tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Hơn 60% dân số là Phật tử theo truyền thống Phật giáo Đại thừa.
Vào buổi b́nh minh lịch sử, bán đảo Hàn quốc được chia thành ba kinh đô lớn gọi là thời Tam Kinh: Koguryo (có khi gọi là Goh Goo Ryur) (37 trước TL –668 sau Tây lịch), Paekje (Baek Jeh) (18 trước TL-660 sau TL) và Silla (Sil Lah) (57 trước TL –935 sau TL).
Phật giáo từ Trung quốc du nhập vào Hàn quốc và đă dễ dàng hoà vào văn hoá tín ngưỡng Shamani bản địa tạo thành Phật giáo Hàn quốc. Cũng như các nước Phật giáo khác, những lời dạy căn bản của Đức Phật giống nhau, dù h́nh thức Phật giáo mỗi nước có khác v́ ảnh hưởng với phong tục văn hoá bản địa.
Tại kinh đô Kogurya vào năm 372 tây lịch, vua Soh Soo Rim đă cho thỉnh hoà thượng Soon Doh ở Đông Kinh, Trung quốc đến truyền dạy Phật pháp. Hoà thượng mang nhiều tượng Phật và kinh điển Phật pháp theo với triết lư nhân quả ‘Gieo nhân ǵ, sẽ gặt quả đó’ nhanh chóng được quần chúng chấp nhận và được vua chúa ủng hộ v́ xem Phật giáo như một hệ tư tưởng lănh đạo tinh thần nhân dân.
Nhiều chùa tháp được xây dựng như 9 ngôi chùa ở Yongyang (392), chùa Kumgang-sa, Panyong-sa, Yongt’ap-sa là thuộc kinh đô Koguryo. Tháp Hàn quốc nổi tiếng là làm bằng đá nhưng cũng có những tháp làm bằng gỗ, đất, gạch và những vật liệu khác. Yukwang-t’ap là ngôi tháp Phật giáo đầu tiên ở king đô Koguryo hiện nay vẫn c̣n.
12 năm sau đó, sư Marananda (Ấn độ) đă mang Phật giáo đến kinh đô Paekje. Vua Chim Ryoo (384) tích cực truyền bá Phật giáo cho đến triều vua Ah Shin kế tiếp. Vua Ah Shin đă bảo thần dân rằng: ‘Chúng ta sẽ gặp được điều tốt nếu chúng ta tin vào Phật pháp’ . Vua Surng Myurng cũng đă gởi cúng dường nhiều tượng Phật và kinh điển qua Nhật bản. Năm 595, vua King Song đă đúc một tượng Phật lớn để cầu nguyện cho tất cả chúng sanh trên thế giới đạt được giác ngộ. Ngài cũng gởi một tượng Phật đến Nhật bản khi ngài truyền bá Phật pháp tại đó, sau đó gởi nhiều tượng Phật Di Lặc nữa. Ngay cả ngày nay những tượng Phật của kinh đô Paekje như Ma-aebul cũng được t́m thấy tại đây.
Nhiều tượng bằng đồng, vàng đă tồn tại từ thời Koguryo và Paekje đến nay. Nghệ thuật của những tượng này được đánh giá rất cao.
Từ năm 530 trở đi, nhiều vị tăng Hàn quốc đă đến Nhật bản hoằng pháp và xây dựng nhiều chùa tháp tại đó. Nhiều lănh vực nghệ thuật và văn hoá Nhật bản (đặc biệt kiến trúc, tranh vẽ, nghề làm đồ gốm, đồ gang và ngay cả trà đạo) có thể nói phần nào ảnh hưởng văn hoá Phật giáo Hàn quốc.
Phật giáo được du nhập vào kinh đô Silla vào năm thứ XIV của vua Burp Huhng (527) trị v́, tức 150 năm sau khi Phật giáo du nhập vào kinh đô Kogurya và Paekje.
Năm 668, Shilla đă thống lĩnh những kinh đô khác và Phật giáo trở thành nền văn hoá trung tâm thống nhất bán đảo này. Thời đại này được biết là thời Shilla Thống nhất. Nhiều lễ nghi xuất hiện và thực hiện nhằm bảo vệ đất nước khỏi ngoại xâm. Suốt trong thời đại này, Phật giáo đă tiếp tục phát triển cả hai mặt học thuật và văn hoá. Đây là thời điểm sáng tạo nhiều tuyệt tác nghệ thuật. Những ngôi chùa chính của Hàn quốc được xây, những tháp chuông và tượng Phật được đúc. Những tác phẩm này đă trở thành quốc bảo cho bán đảo Hàn quốc. Chùa Hwangnyong-sa hùng vĩ trang nghiêm được xây dựng và trở thành trung tâm Phật giáo ở Shilla. Chùa có ba tượng Phật lớn được xây dựng vào năm thứ 35 của triều Chinhung, được đúc từ 34,200 kilo quặng sắt và vàng. Tượng Phật khắc trên hang đá nổi tiếng trong hang Sokkur-am ở Kyongju (732) được tổ chức Unesco công nhận là di sản văn hoá thế giới cũng thuộc Silla.
Kinh Lăng nghiêm và Pháp hoa là những kinh chính của Phật giáo Hàn quốc. Đức Phật A-di-đà và bồ tát Quan-thế-âm thường được thờ và pháp môn tịnh độ là được ưa chuộng tu tập. Trong thời này, cũng có nhiều tổ sư nổi tiếng như sư Wonghyo (617-686) đă viết nhiều bài triết lư về ‘Nhất thừa’. Tổ sư Wonhyo và pháp hữu của ngài là Uisang đến Trung quốc t́m thầy học đạo. Một đêm, khi tổ Wonhyo khát nước, ngài đi t́m nước uống. Sau khi uống xong đi ngủ. Sáng dậy, ngài thấy b́nh nước ngài uống trở thành một sọ người. Lúc đó, ngài chợt ngộ ‘các pháp tuỳ tâm’ và giác ngộ. Ngài liền trở về nước truyền đạo, thống nhất các hệ phái Phật giáo lại với nhau, và ngài đă thành công trong việc tạo thành một phong trào ‘Phật giáo Thống nhất’.
Tổ sư Uisang sau 10 năm học đạo đă viết một bài thơ tặng thầy ḿnh. Bài thơ nói về nội dung của kinh Hoa nghiêm rất đặc sắc.
Có thể nói giai đoạn này là thời hoàng kim của Phật giáo Hàn quốc ở kinh đô Silla này và sau đó nhiều tông phái Phật giáo như tông phái Burp Sahng và Hwa Urm từ Phật giáo đời Đường của Trung quốc cũng du nhập vào.
Vua Tae Joh của triều đại Goh Ryur (935-1392) nghĩ rằng nhờ ơn Phật giáo mà triều đại này mới bền vững nên vua rất kính tin Tam bảo, xây chùa đúc tượng ủng hộ Phật pháp. Vào năm thứ nhất trị v́, vua đă cho mở Hội nghị đưa ra tám điều cấm và vào năm thứ ba trị v́, vua cho xây 10 chùa trong thủ đô và trùng tu nhiều tu viện chùa chiền hư nát khác. Và cuối thời đại của kinh đô Silla tức triều đại Goh Ryur, trường phái thiền (tiếng Hàn quốc gọi là Son hoặc Seon, Nhật bản gọi là Zen và Trung quốc gọi là Chan) từ Trung quốc truyền sang, tạo một khuynh hướng tu tập mới cho Phật giáo Hàn quốc và sau đó lại phát triển thành chín trường phái thiền (Nine Mountains of Son) .
Tóm lại, trong thời đại ‘Tam kinh’, Phật giáo đă phát triển tột bực trong nhiều lănh vực của nền văn hoá bản địa và được các triều đ́nh ủng hộ v́ họ xem Phật giáo như sự ủng hộ tinh thần căn bản cho họ, giúp họ trị dân và Phật giáo là một tôn giáo bảo vệ đất nước khỏi nạn ngoại xâm. Nghệ thuật điêu khắc, đúc chuông, xây chùa, tượng, nghệ thuật tranh vẽ và kỹ nghệ cũng phát triển. Nhưng do v́ nhiều chiến tranh, thiếu sự bảo tŕ, nên chỉ có lưu giữ chứng tích trên sách vở, di tích khảo cổ và lịch sử.
Kinh đô Karak (tồn tại từ thế kỷ I-VI) toạ lạc ở bờ biển phía nam nằm giữa kinh đô Paekje và Shilla hùng mạnh, nên Karak cũng phát triển và thịnh vượng. Có một tháp đá nhỏ tại Hogye-se, Kimhae. Tháp có bốn mặt và cao năm tầng khắc các hoa văn rất đẹp do công chúa Ấn độ từ kinh đô Ayudhya (Nam Ấn) mang đến. Công chúa là hoàng hậu Hokwang-ok của vua Suro (42-199) là vị vua đầu tiên của Karak.
Sau khi thời vàng son của Shilla biến mất, triều đại Koryo chấp chánh vào thế kỷ thứ X. Tuy nhiên, vua lại chú trọng các h́nh thức lễ nghi quá làm cho khuynh hướng tu tập trở nên không đúng chánh pháp. Vài vị tăng đă tranh đấu chống lại khuynh hướng này. Một trong những vị tăng này là thiền sư Uich (1055-1101), con trai của vua Munjong (1046-1083) đă mang 4000 quyển kinh mà ngài đă học ở Trung quốc về Hàn quốc. Từ đó, tam tạng bằng tiếng Hàn quốc khắc trên gỗ được ra đời. Thiền sư đă truyền bá về thiền tông, kinh Hoa nghiêm và lập ra một trường phái mới gọi là Ch’out. Chính sự phát triển này đă mang ánh sáng mới cho Phật giáo ở Koryo. Đạo Khổng cũng du nhập vào bán đảo này cùng thời với đạo Phật nhưng không đạt được sự phổ biến như Phật giáo.
Thiền sư Chinul (1158-1210) (c̣n gọi là Pojokuksa) là một danh tăng của Phật giáo Hàn quốc. Ngài đă thành lập chùa Songgwang-sa trên núi Chogye và ngôi chùa hùng vĩ này vẫn là trung tâm thiền trên 300 năm. Thiền sư T’aego (1301-82) đă thống nhất chín hệ phái thiền thành một dưới tên là trường phái thiền Chogye và cho tới ngày nay trường phái thiền này vẫn là phái thiền chính của Phật giáo Hàn quốc.
Năm 1392, triều đại Koryo sụp đổ, Phật giáo cũng suy giảm v́ triều đại Choson (c̣n gọi Joh Surn) chấp chánh ủng hộ Tân Khổng giáo (Neo-Confucianism). Trước t́nh h́nh này, nhiều vị tăng bắt đầu dấn thân vào việc triều chính dẫn đến sự xung đột với chính quyền. Vua đă ra lịnh chùa không được xây gần phố thị, họ giật sập các chùa trong thành phố, bắt chư tăng hoàn tục và nhiều năm không được vào thành phố. Dù các vị vua của triều đại này đàn áp Phật giáo nhưng Phật tử vẫn tiếp tục đến chùa ủng hộ Phật pháp.
Bắt đầu triều đại Choson (1392-1910), nhiều nhà địa lư đă cố vấn vua t́m nơi khác để lập kinh đô mới. Họ đă chọn một nơi xưa gọi là ‘Hanyang’ và đổi thành ‘Seoul’, thủ đô trung tâm văn hoá và học thuật của bán đảo này từ thời đó đến nay. Seoul tiếng Hàn quốc nghĩa là ‘thủ đô’ và có thể xuất phát từ âm ‘Sravasti’, một thánh địa Phật giáo nơi mà Di mẫu Kiều-đàm-di xin Đức Phật xuất gia. Trong tiếng Hán ‘Sravasti’ đọc là ‘Sarobol’ và tiếng Hàn quốc là ‘Seoul’ .
Trong hậu thế kỷ XVI, trong cuộc xâm lăng của Nhật bản, Phật giáo lại trở thành lực lượng cứu tinh cho đất nước. Tổ sư Sosan (1520-1604) và đệ tử Samyong (1544-1610) đă luyện tập cho 5000 vị tăng cùng đứng lên chống lại quân Nhật và mang về chiến thắng vinh quang. Năm 1604, tổ sư Samyong được cử làm trưởng đoàn sứ giả đến Nhật thương thuyết hoà b́nh hữu nghị với Nhật bản và đạt kết quả thành công tốt đẹp.
Năm 1910, triều đại Choson sụp đổ, Nhật bản lại thôn tính Hàn quốc. Dưới chế độ thuộc địa, Nhật bản rất ủng hộ Phật giáo nhưng bắt phải theo văn hoá Nhật bản và những vị trụ tŕ phải được chánh quyền Nhật bổ nhiệm. Cũng trong thời này, nhiều tác phẩm nghệ thuật Hàn quốc bị mang đến Nhật bản. Hiện nay, các nhà lănh đạo Phật giáo Hàn quốc đang thương thuyết với Nhật bản để xin lại những tuyệt tác đó.
Sau khi giải phóng năm 1945, các vị tăng chân chánh đă thanh lọc phái Phật giáo ‘Tân tăng’ (theo Phật giáo Nhật bản, Tân tăng được phép lập gia đ́nh) ra khỏi chùa để thanh tịnh hoá lại Phật giáo và bắt đầu cho các nam nữ Phật tử thọ giới, xuất gia. Đây là sự phục hồi Phật giáo Hàn quốc lớn nhất.
Gần đây, nhiều chùa và thiền viện ở ngoại thành đă tổ chức nhiều chương tŕnh tu tập cho mọi lứa tuổi như niệm Phật, nghiên cứu kinh sách, các lớp thiền suốt đêm, từ thiện xă hội… Hơn một nửa dân số Hàn quốc là Phật tử và ngay cả những người không phải Phật tử vẫn sống theo nếp sống Phật giáo. Những người theo tôn giáo khác giữ nhiều phong tục tập quán nhưng họ vẫn biết rằng văn hoá Hàn quốc xuất phát từ Phật giáo.


Sách Tham Khảo
1) What is Korean Buddhism, Korean Buddhist Chorgye Order, Chorgye Order Publishing, 2002.
2) Guide to Korean Buddhist Temple, International Dharma Instructors Association, Jogye Order Publishing, 1995.
3) A Panorama of 5000 Years: Korean History, Andrew C. Nahm, Hollym Corporation, USA, 1989.


Tác Giả: Thích Nữ Giới Hương